KIỂM SOÁT NITRITE (NO2 -) TRONG AO NUÔI

Việt Nam với đường bờ biển dài 3.260 km, cùng với vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226.000km2, bên cạnh đó biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển.Cùng với đó là đặc thù hệ thống sông ngòi dày đặc là điều kiện thuận lợi cho nước ta phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Sản lượng thủy sản Việt Nam tăng trưởng liên tục với mức tăng bình quân là 9,07%/năm. Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước.


Trong đó, quy mô, diện tích cũng như sản lượng của ngành nuôi tôm chiếm một tỷ lệ đáng kể so với tổng sản lượng thủy sản của cả nước. Năm 2016, sản lượng tôm nước lợ cả nước ước đạt 650 nghìn tấn. Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tôm sú ước đạt 569.500ha, sản lượng ước đạt 251 nghìn tấn; diện tích tôm thẻ chân trắng ước đạt 64.440 ha, sản lượng ước đạt 253,1 nghìn tấn.

Trong quá trình nuôi tôm thâm canh với mật độ cao, một trong những vấn đề gây ảnh hưởng trực tiếp và nhanh chóng đến sức khỏe và sự phát triển của đàn tôm chính là chất lượng nguồn nước. Đặc biệt là tình trạng nhiễm độc NH3 và NO2 bùng phát chỉ sau một tháng tính từ khi thả tôm. Tôm lờ đờ, sốc, đỏ thân, bỏ ăn, có dấu hiện chậm tăng trưởng, nổi đầu và chết dần hàng ngày. Nếu tình trạng nhiễm độc kéo dài cũng dẫn đến giảm sức đề kháng của tôm, tôm nhiễm các bệnh khác như: phân trắng, đen mang, đốm trắng, hoại tử cơ,…

Trong quá trình nuôi, lượng đạm cung cấp trong thức ăn chỉ được tôm hấp thu khoảng 30%, phần còn lại sẽ chìm xuống và tích lũy trong lớp bùn đáy ao nuôi.Quá trình chuyển hóa nguồn đạm tích lũy này nhờ vào hệ vi sinh vật tự nhiên có sẵn trải qua nhiều giai đoạn: Amon hóa è Nitrite hóa è Nitrate hóa.

Amon hóa là quá trình phân hủy và chuyển hoá các hợp chất hữu cơ phức tạp thành NH3 dưới tác dụng của enzyme protease và peptidase từ vi sinh vật: phân hủy protein thành acid amin. Một phần nhỏ acid amin sẽ được vi sinh vật sử dụng để tổng hợp thành protein của chúng, phần còn lại được tiếp tục phân giải tạo ra NH3, CO2, SO42- và các sản phẩm trung gian khác. Hàm lượng khí NH3 hiện diện trong môi trường nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó pH và nhiệt độ mà 2 yếu tố quan trọng nhất. Nếu nhiệt độ, pH cao mà hàm lượng oxy thấp thì tính độc NH3 càng cao.


Quá trình nitrate hóa chính là quá trình sinh học của các vi khuẩn nitrate hóa giúp oxy hóa amoniac(gây độc) thành nitrate (không độc) thông qua nitrite (gây độc) trong điều kiện có oxy. Quá trình này bao gồm hai giai đoạn: NH3(độc) sẽ được nhóm vi khuẩn nitrite hóa (Nitrosomonas sp. Nitrosococcus sp.)chuyển hóa thành NO2-(rất độc); NO2-tiếp tục được nhóm vi khuẩnnitrate hóa (Nitrobacter sp. Nitrospira sp.)chuyển hóa thành NO3-(rất ít độc). Tuy nhiên mật độ của của nhóm vi khuẩn nitrate trong tự nhiên khá thấp, tốc độ phát triển chậm, đồng thời quá trình nitrate hóa của nhóm vi khuẩn này đòi hỏi hàm lượng oxy lớn hơn rất nhiều so với quá trình nitrite hóa.

NH3một mặt đã xuất hiện từ những ngày đầu ngay khi có sự hiện diện của thức ăn tôm ở đáy ao, mặt khác lại được tích lũy dần theo thời gian nuôi đồng thời do quá trình nitrite hóa tạo thành NO2gây độc, dẫn đến hiện tượng tôm chết hàng loạt. Trong khi đó, quá trình nitrate hóa lại diễn ra rất kém khi hàm lượng oxy bị hạn chế (ao nuôi không được sục khí đầy đủ hoặc các vị trí góc chết, ít trao đổi khí của ao nuôi) hàm lượng NO2- sẽ tích lũy với hàm lượng lớn trong ao nuôi và gây độc cho tôm.

Khó khăn lớn nhất trong quá trình xử lý tình trạng nhiễm độc trong ao nuôi tôm là do tôm được nuôi thâm canh với mật độ cao và tiêu thụ lượng lớn thức ăn giàu dinh dưỡng. Do đó các biện pháp kiểm soát và phòng ngừa sự tích lũy NO2 trong ao nuôi được quan tâm hơn hết. Bên cạnh các biện pháp cải tạo ao nuôi hoàn chỉnh, loại bỏ bùn cặn dư thừa trước khi bắt đầu vụ nuôi, thay nước một phần và cách nhật, giảm thiểu lượng thức ăn để tránh thức ăn dư thừa, kiểm soát và duy trì ổn định mật độ tảo có lợi trong ao nuôi, cung cấp đầy đủ oxy, bố trí quạt nước hợp lý,… biện pháp bổ sung chế phẩm vi sinh có lợi ngay từ đầu vụ cũng như định kỳ, liên tục trong suốt vụ nuôi mang lại hiệu quả đáng kể.

Trong thực tế, nhằm khắc phục hạn chế của các chủng vi khuẩn nitrite hóa, kiểm soát chặt chẽ quá trìnhtạo thành một lượng lớn NO2- với tốc độ nhanh chóng cũng như khó khăn trong việc gia tăng hiệu quả của quá trình nitrate hóa; phương pháp bổ sungchế phẩm EM chứa các chủng vi khuẩn có lợi (Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis,…) cùng với các enzyme có hoạt tính phân giải mạnh (Amylase, Cellulase, Protease,…)để xử lý đáy ao nuôi và nước nuôingay từ ngày đầu thả tômnhằm kiểm soát môi trường ao nuôi ở trạng thái cân bằng cũng như nâng cao chất lượng nước mang lại hiệu quả triệt để:phân hủy bùn bã hữu cơ, phân tôm,… (phát sinh từ thức ăn thừa hoặc do xử lý hồ nuôi chưa triệt để), hạn chế phát sinh khí NH3, từ đó hạn chế tiệt để quá trình nitrite hóa hình thành khí NO2gây độc trong suốt quá trình nuôi,bổ sung hệ vi sinh vật có lợi, ức chế vi khuẩn có hại, ổn định môi trường nước, giúp cân bằng pH.Trong quá trình nuôi, nếu sự cố nhiễm độc khí phát sinh, bổ sung chế phẩm vi sinh EMcó khả năng phân giải mạnh nguồn chất hữu cơ chứa Nitơ này với tỷ lệ thích hợp kết hợp với các biện pháp thay nước một phần, giảm thức ăn, gia tăng hàm lượng oxy cho hiệu quả nhanh chóng, tác dụng triệt đểgiúp cải thiện đáng kể tình trạng tích lũy nitrite trong ao nuôi.

Để đạt được hiệu quả tốt nhất trong công tác kiểm soát hàm lượng nitrite gây độc trong ao hồ nuôi tôm, việc kiểm tra thường xuyên và kết hợp các phương pháp cải tạo, kiểm soát chất lượng nước, khẩu phần ăn, hàm lượng oxy, mật độ tảo có lợi,… cùng với bổ sung liên tục, thường xuyên các chủng vi sinh vật có ích, đặc biệt là Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis,…có khả năng tổng hợp các enzyme có hoạt tính phân giải mạnh: Amylase, Cellulase, Protease,… nhằm xử lý đáy ao nuôi cũng như nước nuôi tôm ngay từ đầu vụ nuôi đến khi thu hoạch là phương pháp kiểm soát chặt chẽ và triệt để chất lượng nguồn nước, giúp gia tăng sức đề kháng, giảm tỷ lệ nhiễm bệnh nâng cao chất lượng, sản lượng thu hoạch, mang lại lợi ích kinh tế lớn cho người nuôi trồng.

Cố Vấn Khoa Học: TS. Nguyễn Đình Bồng – Trưởng Khoa Công nghệ Sinh học – Môi Trường - Trường Đại học Yersin Đà Lạt.

Bài viết liên quan

Gần 10% thịt tồn dư chất cấm
06/07/2016 2:15:27 CH

Gần 10% thịt tồn dư chất cấm

Theo Bộ NN&PTNT, tình trạng thịt
tồn dư chất cấm chứng tỏ các trại nuôi vẫn tiếp tục sử dụng chất cấm nuôi vỗ...
Gà công nghiệp Pháp đổ bộ
06/07/2016 2:24:11 CH

Gà công nghiệp Pháp đổ bộ

Hiện nay tại một số siêu thị như Big C (Hoàng Văn Thụ), Maximark (Cộng Hòa) thịt gia súc ngoại nhập có bò Úc, bò...
Trung Quốc mua heo ồ ạt: Cẩn trọng!
06/07/2016 2:34:36 CH

Trung Quốc mua heo ồ ạt: Cẩn trọng!

Trung Quốc vẫn chưa cho phép nhập khẩu heo từ Việt Nam mà chỉ “mở cửa” đường tiểu ngạch. Giá heo hơi tại phía Nam...
Nhập nhằng thịt VietGap
08/07/2016 9:03:31 SA

Nhập nhằng thịt VietGap

Trước sự đe dọa của thực phẩm “bẩn”, các bà nội trợ đã chọn kênh mua sắm cửa hàng, siêu thị uy tín để yên...
Xuất khẩu lợn mỡ sang Trung Quốc, lợi trước mắt, hại dài lâu
08/07/2016 9:20:26 SA

Xuất khẩu lợn mỡ sang Trung Quốc, lợi trước mắt, hại dài lâu

Manh nha từ năm2011nhưng đặc biệt từ năm2013đến nay thương lái Việt Nam và Trung Quốc ồ ạt tổ chức thu gom lợn thịt trọng...
Giá lợn hơi ‘rớt mạnh’ do Trung Quốc hạn chế nhập khẩu
21/07/2016 9:22:17 SA

Giá lợn hơi ‘rớt mạnh’ do Trung Quốc hạn chế nhập khẩu

Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, giá lợn hơi xuống thấp là do lượng lợn tồn đọng tại Trung Quốc còn nhiều nên nước...
Bản quyền © 2016 bioone.vn | Designed by Viễn Nam