Enzyme có vai trò gì trong thức ăn chăn nuôi

Để giúp thú tiêu hóa tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, hạn chế các tác động bất lợi có trong nguyên liệu thức ăn thì xu hướng chung hiện nay người ta bổ sung thêm vào thức ăn các enzyme công nghiệp. Vai trò của enzyme trong chăn nuôi rất tíchcực ; đặc biệt là đối với chất xơ, phytate có trong cám gạo và ảnh hưởng tích cực đối với môi trường.

Image title

1. Đối với chất phytate
Các enzyme phân hủy NSP (như endo-xylanase và bglucanase-glucanase) và phân hủy phytate (như phytase) chứa nhiều trong cám gạo, lúa mì, lúa mạch đen... được ứng dụng rộng rãi trong những khẩu phần ăn không chỉ do vấn đề môi trường, mà vì nó còn có ý nghĩa về mặt kinh tế. 
Trong tự nhiên, khoảng 60 - 75% phốt pho có trong hạt ngũ cốc được liên kết hữu cơ dưới dạng phytate, đây là dạng rất khó hấp thu đối với heo. Giá trị sinh học của phốt pho ở hạt ngũ cốc rất biến động từ dưới 15% ở bắp cho tới khoảng 50% ở lúa mì. 

Trong khẩu phần bắp - khô dầu đậu nành có hai phần ba lượng phốt pho bị liên kết dưới dạng axít phytic. Heo không thể tiêu hóa lượng phốt pho này. Lượng phốt pho bị thải này sẽ giảm đáng kể nếu bổ sung phytase vi sinh vào khẩu phần, men này sẽ giải phóng một số mạch liên kết phốt pho làm cho heo tiêu hóa dễ dàng. Do đó lượng phốt pho vô cơ phải bổ sung thêm để đáp ứng nhu cầu sẽ giảm, lượng phốt pho thải ra có thể giảm 30 - 50%.
Hiệu quả của việc bổ sung phytase thay đổi theo từng loại heo, trọng lượng, khẩu phần, mức ăn, tần suất cho ăn, nguồn phytase, lượng phytase bổ sung và tình trạng sinh lý của heo. Không có mức chuẩn cho việc bổ sung phytase cho tất cả các loại khẩu phần bởi vì mức phốt pho tổng số và phốt pho phytate của các loại khẩu phần thay đổi. Enzyme phytase không chỉ làm gia tăng khả năng tiêu hóa phốt pho mà còn làm tăng khả năng tiêu hóa những chất khoáng và các axít amin khác.

2. Đối với chất xơ

Việc sử dụng các enzyme có tác dụng trên chất xơ (NSP), giúp vật nuôi tiêu hóa tốt hơn thức ăn; vừa hạn chế các tác hại của bản thân những NSP gây ra, vừa giải phóng được một phần năng lượng, protein và các axít amin thặng dư. 

Enzyme 
tạo điều kiện phóng thích các axít amin, cải thiện khả năng tiêu hóa từng loại axít amin từ 1,7 - 7,9 đơn vị phần trăm (mức cải thiện cao nhất của methionine là 7,9%), giúp tiết kiệm được các axít amin khi bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc, giảm giá thành sản xuất. Sử dụng enzyme giúp cải thiện thành tích của vật nuôi. Các cải thiện này có được là do sự phối hợp của nhiều yếu tố khác nhau:
• Sự cải thiện môi trường ruột.
• Sự cải thiện khả năng tiêu hoá và đặc tính chất độn chuồng.
• Sử dụng các thực liệu kinh tế hơn.

Các yếu tố khác nhau này là do các biểu hiện khác nhau về hoạt động căn bản của enzyme trong thức ăn. Các hoạt động bao gồm sự giảm độ nhờn trong dưỡng chất ở ruột, giải phóng năng lượng thặng dư từ các thành phần thức ăn khó tiêu hóa như các NSP, giải phóng các dưỡng chất kết dính bên trong vách tế bào... làm tăng giá trị hữu dụng của dưỡng chất. Các yếu tố kháng dinh dưỡng cũng có thể được phân giải. Nhiều kết quả thí nghiệm cho thấyenzyme có thể được xem như là một chất bổ sung, là một nguồn năng lượng.

Đối với hệ vi sinh vật đường ruột, men tiêu hóa có tác dụng làm gia tăng khả năng tiêu hóa thức ăn ở ruột non, do vậy làm giảm quá trình lên men vi sinh ở ruột già, duy trì quá trình thẩm thấu khi heo con tiêu chảy. 
Ngoài ra men tiêu hóa bổ sung còn cho thấy có tác dụng làm giảm độ chênh lệch trọng lượng giữa các vật nuôi trong đàn. Men tiêu hóa cho phép thay thế ngũ cốc chín bằng ngũ cốc sống mà không làm ảnh hưởng đến năng suất vật nuôi. ảnh hưởng của enzyme đã làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng ở bề mặt ruột nhờ vào sự giảm chất nhầy và khả năng giữ nước trong đường tiêu hóa. Điều này có ảnh hưởng tích cực đến lượng ăn vào cũng như sự tăng nhanh lượng vi khuẩn đường ruột.

3. Đối với môi trường

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang nổ lực tìm cách làm giảm ô nhiễm từ các chất thải ra trong chăn nuôi. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được rằng cần cải thiện khả năng sử dụng các dưỡng chất trong khẩu phần của vật nuôi để hạn chế tối đa lượng phân thải ra. 

Trước đây, do ít quan tâm đến lượng chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài nên hậu quả của việc cho ăn quá nhiều chất dinh dưỡng nhằm tối đa hóa năng suất đã dẫn đến hậu quả là lượng chất dinh dưỡng thải ra quá nhiều qua phân và nước tiểu (chủ yếu là hàm lượng protein, phốt pho và canxi). Qua nhiều nghiên cứu cho thấy việc bổ sung enzyme tỏ ra có hiệu quả trong việc cải thiện các hạn chế trên.

Ở các khẩu phần có bổ sung men tiêu hóa thì lượng nitơ thải ra giảm một cách đáng kể và lượng nitơ tích lũy tăng 5 - 15%. Khi bổ sung men tiêu hóa phù hợp vào thức ăn có thể giảm lượng nitơ thải ra trên một con heo từ 10 - 15%, tương đương với 200g. Như vậy, một con heo nuôi từ lúc sinh ra đến lúc giết thịt 100kg thì lượng vật chất khô thải ra trong phân sẽ ít hơn 5kg hoặc lượng phân ít hơn 15 - 20kg/heo.

Enzyme
 đã có vai trò trong việc cải thiện khả năng sử dụng thức ăn nên giảm được lượng chất thải. Khi tăng khả năng tiêu hóa từ 85% lên 90% thì lượng vật chất khô trong phân giảm 33%. 

Tương tự như vậy, ta có thể ước lượng khả nặng ô nhiễm môi trường tiềm tàng của các thành phần khác trong khẩu phần, ví dụ như nitơ và phốt pho. Một trong những lợi ích mà enzyme mang lại là hàm lượng dinh dưỡng trong phân giảm đáng kể. Sự giảm lượng dinh dưỡng bài tiết qua phân nhờ bổ sung enzyme trong khẩu phần đặc biệt quan trọng vì phân thải vào đất và nước làm ô nhiễm môi trường. 

Tác động thực sự của enzyme trên heo là làm giảm lượng phân sản xuất và độ ẩm của phân do sự phá vỡ cân bằng nước trong đường ruột. Việc bổ sung xylanase có hiệu quả làm giảm độ nhờn đường tiêu hóa và những rối loạn tiêu hóa kèm theo nó, điều này làm gia tăng độ khô của phân và cải thiện lượng phân sản xuất.  

Bà con có thể tham khảo sản phẩm Enzyme Blend BioOne:

http://http://bioone.vn/San-pham/Enzyme-Blend-BioOne-ad76.html

Image title



Bài viết liên quan

Tầm quan trọng của việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi thủy sản
06/07/2016 9:11:41 SA

Tầm quan trọng của việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi thủy sản

Trước yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng đối với các mặt hàng thực phẩm thủy sản là phải an toàn, chất lượng...
Dùng tỏi trong nuôi trồng thủy sản
06/07/2016 9:25:15 SA

Dùng tỏi trong nuôi trồng thủy sản

Tỏi được dùng để phòng trị nhiều bệnh (đường ruột, phân trắng, đốm trắng, gan tụy…) trên tôm cá; nhưng đa số người dùng và...
Phòng bệnh IHHNV trên tôm nuôi nước lợ
06/07/2016 10:19:07 SA

Phòng bệnh IHHNV trên tôm nuôi nước lợ

Kết quả xét nghiệm của Chi cục Thú y một số tỉnh ĐBSCL cho thấy, tỷ lệ mẫu tôm bệnh dương tính đối với bệnh...
Chế phẩm sinh học, tác nhân ức chế hoạt động của vi rút trong nuôi tôm
06/07/2016 10:51:42 SA

Chế phẩm sinh học, tác nhân ức chế hoạt động của vi rút trong nuôi tôm

Ngành nuôi tôm hiện được coi là ngành sản xuất lương thực chính, đóng góp quan trọng trong việc cung cấp nguồn protein cho nhu...
Cải tạo nguồn nước bằng chế phẩm sinh học
06/07/2016 11:11:53 SA

Cải tạo nguồn nước bằng chế phẩm sinh học

Vấn đề ô nhiễm nguồn nước hiện nay gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nuôi trồng thủy sản. Chính vì thế việc...
Men vi sinh từ lý thuyết đến thực tiễn
06/07/2016 11:21:04 SA

Men vi sinh từ lý thuyết đến thực tiễn

Thực chất của việc dùng men vi sinh trong ao nuôi thủy sản như thế nào và thực sự men vi sinh có giải quyết...
Bản quyền © 2016 bioone.vn | Designed by Viễn Nam