Ủ PHÂN CÁ BẰNG CHẾ PHẨM VI SINH HỮU HIỆU (EM)

Phân cá là một loại phân bón hữu cơ từ nguồn nguyên liệu phế, phụ phẩm của ngành khai thác, đánh bắt và chế biến cá tươi tự nhiên. Đây là loại phân bón hữu cơ thường được sử dụng trong nông nghiệp cho nhiều loại đất và nhiều loại cây trồng, với số lượng lớn nhằm bổ sung nguồn đạm với hàm lượng lớn trong nhiều giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

Việc sử dụng phân bón hữu cơ thay thế cho phân bón vô cơ mang lại hiệu quả cao về kinh tế, giảm thiểu tồn dư hóa chất và ô nhiễm môi trường, bảo vệ hệ sinh thái, mang lại lợi ích phát triển lâu dài và bền vững. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ, đặc biệt là phân cá không tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật sẽ đem lại một số ảnh hưởng tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đất trồng, năng suất chất lượng nông sản và gây hại đến môi trường cũng như hệ sinh thái.

Hàm lượng protein, vitamin và các khoáng chất tự nhiên trong nguồn nguyên liệu sản xuất phân bón từ phế phẩm từ cá rất lớn. Đối với cá nước ngọt, hàm lượng protein chứa khoảng 17-28%, đối với cá nước biển hàm lượng này có thể lên đến 40% tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu. Nguồn nguyên liệu này khá dồi dào và dễ dàng thu nhận. Phân cá được sản xuất từ nguồn cá nước ngọt mang lại lợi thế hơn so với từ cá biển do nguồn nguyên liệu cá nước ngọt dễ dàng phân hủy với thời gian ủ ngắn. Đồng thời phân cá được sản xuất từ nguồn nguyên liệu cá biển có hàm lượng muối (NaCl) khá cao, gây tồn dư cho đất trong quá trình sử dụng lâu dài, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng.

Với phương pháp thủ công, truyền thống thường được thực hiện ngay các hộ gia đình, nguồn nguyên liệu này chỉ được ngâm trong một thời gian dài, hệ vi sinh vật tự nhiên đóng vai trò then chốt trong quá trình ủ. Đầu tiên, hệ vi sinh vật có hại sẽ phát triển trước, các vi sinh vật lên men thối sẽ hoạt động rất mạnh mẽ. Quá trình này sản sinh ra H2S và NH3 có mùi thối, khai đặc trưng khiến cho mẻ phân ủ rất hôi, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thời gian ủ kéo dài, do mất từ 4-6 tháng hệ vi sinh vật trong tự nhiên mới có thể hoạt động mạnh. Mặt khác, protein trong cá vẫn chưa được thủy phân hoàn toàn, sản phẩm sau khi ủ vẫn chứa các hợp chất cao phân tử với hàm lượng rất cao, do đó cây trồng khó có thể hấp thu được. Bên cạnh đó, các vi sinh vật gây bệnh (E. Coli, Salmonella, Coliform,…), hàm lượng kim loại nặng (As, Pb, Hg, Cd,…), chất kích thích sinh trưởng,… tồn dư trong phân cá được sản xuất theo phương thức này cũng vượt quá mức cho phép.

Nhằm giải quyết những hạn chế của phương pháp ủ phân thủ công truyền thống, việc bổ sung chế phẩm vi sinh hữu hiệu (Effective microorganisms - EM) cùng với enzyme protease được xem như là một giải pháp hữu hiệu nhằm gia tăng hiệu quả và rút ngắn thời gian ủ phân cũng như giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất.

Chế phẩm sinh học EM bao gồm các loài vi sinh vật có ích (vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc), sống cộng sinh trong cùng môi trường. Việc bổ sung chế phẩm vào nguyên liệu ủ phân cá nhằm tăng gia tăng mức độ đa dạng và hàm lượngcủa hệ vi sinh vật trong mẻ phân ủ bên cạnh hệ vi sinh tự nhiên có sẵn trong nguyên liệu. Phương pháp bổ sung các vi sinh vật có ích giúp cho thời gian ủ được rút ngắn, cho hiệu quả thủy phân gia tăng rõ rệt. Đồng thời, sự phát triển của hệ vi sinh vật có lợi sẽ cạnh tranh làm giảm thiểu hệ vi sinh vật gây bệnh cũng như giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các vi sinh vật có hại gây ra trong quá trình ủ.

Đầu tiên, chế phẩm EM gốc (EM1) được nhân sinh khối với rỉ đường và nước sạch với tỷ lệ 1:1:18-20 trong môi trường yếm khí, thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp từ 7-10 ngày. Quá trình này được gọi là ủ EM thứ cấp nhằm mục đích gia tăng hàm lượng vi sinh vật. Quá trình ủ EM thứ cấp cho sản phẩm EM2 được tiến hành đơn giản với các nguyên liệu, dụng cụ dễ tìm, giá thành thấp. Tuy nhiên cần chú ý đến việc đậy kín để đảm bảo môi trường yếm khí và nước được sử dụng phải là nướckhông chứa Clo giúp cho hệ vi sinh vật phát triển tối ưu.

Giai đoạn thứ hai, nguồn nguyên liệu cá tươi cần được xử lý cơ học: cắt nhỏ, nghiền nát trước khi tiến hành bổ sung hệ vi sinh vật từ chế phẩm EM2 nhằm đạt hiệu quả ủ cao nhất. Chế phẩm EM2 được bổ sung vào nguyên liệu với tỷ lệ 10L EM2:100-120kg nguyên liệu, đậy kín và đặt ở nơi khô ráo từ 30-40 ngày. Trong quá trình ủ này có thể bổ sung thêm phân ure, S.A, K (3%:1.5%:1.5% so với khối lượng nguyên liệu) nhằm gia tăng chất lượng phân bón sau khi ủ. Để gia tăng hiệu quả thủy phân protein trong cá,bên cạnh các enzyme được tiết ra trong quá trình sinh trưởng và phát triển của hệ vi sinh vật trong mẻ ủ, việc bổ sung enzyme protease từ các chế phẩm protease được sản xuất và bán trên thị trường hoặc bổ sung nguồn enzyme này từ tự nhiên (papain- đu đủ, bromelain-dứa,…) cũng mang lại hiệu quả đáng kể. Quá trình ủ để đạt được hiệu quả cao cần chú ý đến yếu tố yếm khí và nhiệt độ của mẻ ủ.

Sau quá trình ủ, protein cao phân tử trong cá được thủy phân hoàn toàn thành các amino acid, giúp cây trồng dễ dàng hấp thu. Trong phân bón thành phẩm, hệ vi sinh vật có ích từ chế phẩm EM vẫn tiếp tục tồn tại, do đó khi phân bón được sử dụng để bón cho cây trồng, hệ vi sinh vật này tiếp tục phát huy hiệu quả tác động của chúng: bổ sung hệ vi sinh vật cho đất, cải thiện môi trường của đất, tiêu diệt tác nhân gây bệnh, gia tăng năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, gia tăng hiệu lực sử dụng các chất hữu cơ làm phân bón,…

Phương pháp sử dụng chế phẩm EM trong quá trình ủ phân bón cá không chỉ mang lại hiệu quả lớn trong quá trình ủ phân: giảm 2/3 thời gian ủ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, gia tăng hiệu quả thủy phân,… mà còn mang lại lợi ích lớn trong quá trình sử dụng: cải tạo đất trồng, giảm thiểu hệ vi sinh vật gây bệnh, gia tăng năng suất, chất lượng cây trồng,…

Cố Vấn Khoa Học: TS. Nguyễn Đình Bồng

Trưởng Khoa Công nghệ Sinh học – Môi Trường 

Trường Đại học Yersin Đà Lạt.


Bài viết liên quan

Tầm quan trọng của việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi thủy sản
06/07/2016 9:11:41 SA

Tầm quan trọng của việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi thủy sản

Trước yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng đối với các mặt hàng thực phẩm thủy sản là phải an toàn, chất lượng...
Dùng tỏi trong nuôi trồng thủy sản
06/07/2016 9:25:15 SA

Dùng tỏi trong nuôi trồng thủy sản

Tỏi được dùng để phòng trị nhiều bệnh (đường ruột, phân trắng, đốm trắng, gan tụy…) trên tôm cá; nhưng đa số người dùng và...
Phòng bệnh IHHNV trên tôm nuôi nước lợ
06/07/2016 10:19:07 SA

Phòng bệnh IHHNV trên tôm nuôi nước lợ

Kết quả xét nghiệm của Chi cục Thú y một số tỉnh ĐBSCL cho thấy, tỷ lệ mẫu tôm bệnh dương tính đối với bệnh...
Chế phẩm sinh học, tác nhân ức chế hoạt động của vi rút trong nuôi tôm
06/07/2016 10:51:42 SA

Chế phẩm sinh học, tác nhân ức chế hoạt động của vi rút trong nuôi tôm

Ngành nuôi tôm hiện được coi là ngành sản xuất lương thực chính, đóng góp quan trọng trong việc cung cấp nguồn protein cho nhu...
Cải tạo nguồn nước bằng chế phẩm sinh học
06/07/2016 11:11:53 SA

Cải tạo nguồn nước bằng chế phẩm sinh học

Vấn đề ô nhiễm nguồn nước hiện nay gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nuôi trồng thủy sản. Chính vì thế việc...
Men vi sinh từ lý thuyết đến thực tiễn
06/07/2016 11:21:04 SA

Men vi sinh từ lý thuyết đến thực tiễn

Thực chất của việc dùng men vi sinh trong ao nuôi thủy sản như thế nào và thực sự men vi sinh có giải quyết...
Bản quyền © 2016 bioone.vn | Designed by Viễn Nam